Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

 

Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

 

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

 

a) Không có di chúc;

 

b) Di chúc không hợp pháp;

 

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế; 

 

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

 

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

 

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

 

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

 

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

 

Người thừa kế theo pháp luật

 

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

 

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

 

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; 

 

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

 

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

 

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

 

Phản hồi từ khách hàng

nguyễn đai trung (trung_nd@yahoo.com)
Bố mẹ tôi có 7 con, 4 trai, 3 gái. bố tôi mua miếng đất 500 m trên có nhà 1 tầng ở Bắc Ninh. Bố tôi mất năm 1993 không để lại di chúc. xin hỏi người thế kếtheo pháp luật là những ai ? Năm 2015 mẹ tôi cho em trái út làm nhà đến hơn nửa đất (cộng sân để oto). xin hỏi đúng hay sai ? phần còn lại họp gia đình đều thống nhất là đất của những người còn lại và làm nhà thờ , xin hỏi đất này sẽ đứng tên ai ? mẹ tôi định chủ định anh trai lớn đứng tên , xin hỏi đúng hay sai ?;
Luật sư tư vấn (luatdansu.net@gmail.com)

Thứ nhất, người thừa kế theo pháp luật:

Vì bố bạn mất không để lại di chúc nên di sản này được  chia theo quy định của pháp luật như sau:

- Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và người thừa kế theo pháp luật được quy định tại điều 651 BLDS :

 “a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết…”

- Bố bạn có mua một mảnh đất 500m2 trên có nhà một tầng ở Bắc Ninh, do vậy khi bố bạn mất di sản của bố bạn để lại sẽ chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, cụ thể là vợ ( mẹ bạn)  và 7 người con (4 trai, 3 gái).

Thứ hai, mẹ bạn cho e trai út làm nhà hơn nửa đất( bao gồm sân để ô tô):

Trước hết, muốn xác định việc làm của mẹ bạn đúng hay trái với quy định của pháp luật căn cứ :

- Nếu đó là tài sản chung của bố mẹ bạn, theo pháp luật, mẹ bạn sẽ có ½ mảnh đất 500m2, còn ½ diện tích  đất còn lại (250m 2) tài sản của bố bạn để lại sau khi chết sẽ được chia theo pháp luật :hàng thừa kế thứ nhất bao gồm : vợ ( mẹ bạn) và 7 người con. Khi đó, nếu phần đất mẹ bạn cho em trai út để làm nhà thuộc sở hữu của mẹ bạn thì việc làm đó là đúng

- Nếu đó là tài sản riêng của bố bạn , sau khi chết ông không để  lại di chúc nên di sản chia theo pháp luật,  những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 651 BLDS được quy định theo thứ tự sau đây:

“ a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết…..”

Do vậy, tài sản sẽ được chia đều cho vợ( mẹ bạn) và 7 người con. Việc mẹ bạn cho trai út làm nhà đến hơn nửa đất( sân để ô tô) là trái quy định của pháp luật.

Thứ ba, phần còn lại họp gia đình đều thống nhất là đất của những người còn lại và làm nhà thờ sẽ đứng tên ai?Việc mẹ bạn chỉ định anh trai lớn đứng tên đúng hay sai

Đây không phải là di sản dùng vào việc thờ cúng theo di chúc ( DD645 BLDS) mà là di sản được để lại vào được những người thừa kế theo pháp luật thỏa thuận để làm nhà thờ. Do vậy, việc ai đứng tên cũng sẽ dựa vào sự thỏa thuận giữa những người thừa kế theo pháp luật với nhau.

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Luật sư tư vấn nói:

    Chào chị!

    Theo quy định, ly hôn đơn phương phải gửi đơn tại Toà án nơi bị đơn (nơi cư trú của chồng chị). Chị xác định người thân của chồng chị có biết được địa chỉ của chồng chị ko?

    + Nếu người thân chồng chị không biết tin tức, chị có thể làm đơn gửi tới nơi chồng chị cư trú cuối cùng để xác nhận chồng đã bỏ đi nhưng thời gian bỏ đi phải ít nhất 06 tháng. Quá thời hạn 06 tháng sau khi chồng chị bỏ đi, chị có thể xin xác nhận của xã, phường sau đó gửi đơn tới tòa án nơi cư trú trước đây của chồng mình để yêu cầu tòa án tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải được đăng trên báo hàng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp và phát sóng trên đài Phát thchị hoặc Đài truyền hình của Trung ương 03 lần trong 03 ngày liên tiếp.

    Sau khi ra thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không xác định được thông tin của chồng chị và kể từ ngày bỏ đi đã biệt tích hai năm liền trở lên thì yêu cầu tòa án tuyên bố mất tích. Sau đó gửi đơn xin ly hôn cùng các giấy tờ liên quan tới Tòa án nơi chị đang cư trú để làm thủ tục xin ly hôn như thủ tục chung theo điều 68 Bộ luật dân sự 2015.

    + Nếu chị xác định được người thân chồng chị biết nơi anh ấy đang cư trú nhưng không tiết lộ thông tin, chị có thể làm đơn yêu cầu Tòa án để gửi thông báo tới người thân của chồng chị yêu cầu cung cấp địa chỉ cư trú hiện tại của chồng mình. Sau đó chị có thể làm đơn xin ly hôn đơn phương gửi tới Tòa án nơi chị đang cư trú.

    ;
  • Trần thị hồng nói:
    Vợ chồng em ly thân được 1 năm giờ em muốn ly hôn. Chồng em sang trung quốc em gọi không liên lạc được toà an cho em ý kiến làm sao giải quyết ly hôn nhanh cho em với ạ. Giấy tờ tuỳ thân của em chồng em nó cầm hết;
  • Trần thị hồng nói:
    Vợ chồng em ly thân được 1 năm giờ em muốn ly hôn. Chồng em sang trung quốc em gọi không liên lạc được toà an cho em ý kiến làm sao giải quyết ly hôn nhanh cho em với ạ. Giấy tờ tuỳ thân của em chồng em nó cầm hết;
  • Trần thị hồng nói:
    Vợ chồng em ly thân được 1 năm giờ em muốn ly hôn. Chồng em sang trung quốc em gọi không liên lạc được toà an cho em ý kiến làm sao giải quyết ly hôn nhanh cho em với ạ. Giấy tờ tuỳ thân của em chồng em nó cầm hết;
  • Thuy nói:
    Tôi cần tue vấn thủ tục ly hôn;
  • Luật sư tư vấn nói:

    Chào bạn, để làm đơn ly hôn bạn tham khảo mẫu sau:

    Mẫu đơn xin ly hôn thuận tình viết tay

    Mẫu xin ly hôn đơn phương

    ;
  • Nguyễn Thu Hương nói:
    E muốn làm đơn li hôn thì như thế nào ạ;
  • Nguyễn Thu Hương nói:
    E muốn làm đơn li hôn thì như thế nào ạ;
  • Nguyễn Thu Hương nói:
    E muốn làm đơn li hôn thì như thế nào ạ;
  • Nguyễn Thị Ngọc nói:
    Chào luật sư, luật sư có thể cho tôi hỏi, tôi và chồng tôi lấy nhau được hơn 3 năm và có 1 con được 31 tháng và đang có ý định li hôn do hai vợ chồng thường xuyên tranh cãi, chồng không tu trí làm ăn, trong thời gian chán nản tôi có nhắn tin nói chuyện với những người bạn là nam và tin nhắn có những icon cười. không biết tại sao chồng tôi lại đăng nhập được zalo của tôi và chụp lại những tin nhắn mà tôi nhắn với những người bạn và đe dọa nếu ly hôn thì sẽ gửi những tin nhắn đó lên mạng xã hội, rồi gửi tòa, và nơi những người bạn tôi làm việc, vậy luật sư cho tôi hỏi, như vậy có phải chồng tôi xâm phạm quyền riêng tư của tôi không ạ? Và nêu li hôn Tôi có được quyền nuôi con không ạ?;