Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Tranh chấp trong thừa kế: Thời hiệu, thẩm quyền, cách thức giải quyết?

Thời hiệu để chia di sản thừa kế là bao lâu? Nếu có xảy ra tranh chấp thừa kế thì yêu cầu cơ quan nào giải quyết và trình tự, thủ tục thực hiện như thế nào?

Thứ nhất, đối với thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp về thừa kế

Hiện nay, có nhiều trường hợp do điều kiện sinh sống và học tập, những người thừa kế không yêu cầu chia di sản mà sau một thời gian mới có yêu cầu. Tuy nhiên, khi gửi yêu cầu chia di sản thì lại hết thời hiệu để chia di sản đó. Vậy theo quy định của pháp luật, thời hiệu thừa kế là bao nhiêu năm. Hiện tại, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chỉ rõ về thời hiệu yêu cầu giải quyết đối với tranh chấp về thừa kế như sau:

- Tranh chấp về phân chia thừa kế: Đối với di sản để lại là bất động sản như đất đai, nhà ở, công trình, tài sản gắn liền với đất,… thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm, đối với các tài sản là động sản khác, thời hiệu được xác định là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

- Đối với tranh chấp mà người thưuà kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác thì thời hiệu được xác định là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

          - Đối với tranh chấp liên quan đến việc yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chế được xác định là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Mốc tính thời hiệu được xác định bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế. Vậy thời điểm mở thừa kế được xác định như thế nào. Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết hoặc được Tòa án tuyên bố là đã chết.

Để tìm hiểu kỹ hơn về thời điểm mở thừa kế, bạn có thể tìm đọc bài viết theo link sau: http://luatdansu.net/quy-dinh-cua-phap-luat-ve-thua-ke/thu-tuc-mo-thua-ke-va-quyen-loi-nhung-nguoi-thua-ke.html

Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định: đối với các tranh chấp về tài sản thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đó. Việc xác định cụ thể Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết thì căn cứ quy định tại các Điều 35, Điều 37 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xác định.

Thứ ba, cách thức giải quyết các tranh chấp về thừa kế

Theo quy định của pháp luật, đối với các tranh chấp về đất đai bắt buộc phải qua hòa giải tại xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, trong tranh chấp về thừa kế, điều này là không bắt nuộc. Do đó, nếu xảy ra tranh chấp liên quan đến thừa kế các bên có thể trực tiếp nộp đến đến Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp. Cụ thể, trình tự giải quyết tranh chấp tại Tòa án như sau:

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ và nộp hồ sơ tại tòa án nhân dân có thẩm quyền

Theo quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện cần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện gồm các tài liệu sau:

  • Đơn khởi kiện
  • Chứng cứ chứng minh về việc quyền của người khởi kiện bị xâm phạm trong tranh chấp thừa kế

Ví dụ về một số văn bản giấy tờ có thể làm chứng cứ chứng mình trước Tòa như: Di chúc của người để lại di sản; Giấy tờ về tài sản; Giấy tờ thể hiện quan hệ của người khởi kiện với người chết như sổ hộ khẩu giấy khai sinh; …..

Bước 2: Tòa án có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ, thụ lý vụ án và thông báo về việc thụ lý

- Tòa án có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ và thực hiện các công việc theo quy định tại Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, theo đó:

+ Kiểm tra hồ sơ và đơn khởi kiện hợp lệ, xác định đúng thẩm quyền giải quyết của mình

+ Thông báo người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí (trừ trường hợp được miễn)

+ Thụ lý vụ án sau khi người khởi kiện nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí

- Sau khi thụ lý vụ án, trong thời hạn 3 ngày làm việc, Tòa án phải thông báo đến các đương sự trong vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý 

- Trên cơ sở thông báo của Tòa án, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể đưa ra ý kiến với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập đối với Tòa án về vụ án 

Bước 3: Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khải chứng cứ và hòa giải

Trình tự thủ tục này được tiến hành theo quy định tại Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bước 4: Tòa án đưa vụ án ra xét xử

Nếu hai bên không thể hòa giải tại phiên họp mà Tòa án tổ chức để hòa giải, Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.


Tại thời điểm tìm hiểu có thể văn bản áp dụng đã hết hiệu lực hoặc sửa đổi bổ sung, bạn tham khảo thêm quy định liên quan hoặc Gọi: 0912 772 008 để được luật sư Tư vấn thừa kế nhanh chóng, chính xác nhất.

Ngoài dịch vụ tư vấn trên theo quy định của pháp luật, Luật ANP còn tư vấn các lĩnh vực khác như: Thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài, tranh chấp va chạm giao thông, Tư vấn thủ tục lập di chúc,  tư vấn đất đai ,  tranh chấp hợp đồng lao động, Tư vấn thừa kế đất đai có tài sản gắn liền trên đất

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Phan Thị cương nói:
    Tư vấn giúp em về vấn đề ly hôn với ạ;