Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về lối đi chung

Khi xảy ra tranh chấp liên quan đến lối đi chung thì phải giải quyết như thế nào? Pháp luật quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về lối đi chung ra sao?

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013, đối với những tranh chấp về đất đai thì các bên phải tiến hành hòa giải tại cơ sở trước khi có đơn yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết những yêu cầu của mình. Theo đó, thẩm quyền tiến hành hòa giải cơ sở được xác định là: Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi có đất tránh chấp.

Sau khi tiến hành hòa giải tại cơ sở mà các bên vẫn chưa thống nhất được cách giải quyết thì tiến hành như sau:

Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định  và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203.

Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Thủ tục, trình tự giải quyết tranh chấp lối đi chung

Hòa giải tại cơ sở

Đây là bước bắt buộc phải thực hiện đối với các tranh chấp liên quan đến bất động sản, trong đó có tranh chấp liên quan đến lối đi chung. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp về lối đi chung tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải cơ sở. Việc làm này giúp cho việc giải quyết tranh chấp được diễn ra nhanh chóng. Hơn nữa việc các bên tự thỏa thuận được với nhau giúp cho quyền và lợi ích của tất cả các bên được đảm bảo.

Để đề nghị được hòa giải tại cơ sở thì một trong các bên của tranh chấp phải gửi đơn đề nghị hòa giải về đất đai đến Ủy ban nhân dân xã nơi có đất tranh chấp. Sau khi nhận được đơn đề nghị, ủy ban nhân dân xã tiến hành tổ chức hòa giải cho các bên.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 202 Luật đất đai, thời hạn tiến hành hòa giải là 45 ngày kể từ ngày ủy ban nhân dân cấp xã nhận được đơn.

Kết quả của việc hòa giải được lập thành biên bản có chữ kỹ của các bên có tranh chấp và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thủ tục, trình tự giải quyết tranh chấp tại Tòa án

Nếu các bên không thể hòa giải được, một trong các bên có quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tránh chấp liên quan đến lối đi chung. Trình tự giải quyết ở Tòa án như sau:

Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện

Hồ sơ khởi kiện tranh chấp về đất đai bao gồm: Đơn khởi kiện; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các mảnh đất; Giấy tờ tùy thân của người có yêu cầu khởi kiện và người bị kiện; Chứng cứ liên quan đến khởi kiện.

Người có yêu cầu khởi kiện nộp hồ sơ khởi kiện trực tiếp tại Tòa án có thẩm quyền hoặc gửi qua đường bưu điện.

Bước 2: Tòa án xem xét và xử lý hồ sơ

Khi tiếp nhận hồ sơ khởi kiện, người có thẩm quyền xem xét về yêu cầu bổ sung hồ sơ nếu hồ sơ còn thiếu. Trường hợp hồ sơ đầy đủ, Tòa án yêu cầu nộp tạm ứng án phí và thụ lý vụ án.

Bước 3: Tòa án tiến hành hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Trước khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tổ chức cho các bên tiến hành hòa giải. Nếu các bên hòa giải thành thì sau 07 ngày không có đương sự thay đổi ý kiến thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận và quyết định đó có hiệu lực.

Trường hợp các bên không thể hòa giải được, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm.

Bước 4: Đưa vụ án ra xét xử

Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ để đưa ra quyết định liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về lối đi chung.


Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, hiệu quả và chính xác nhất, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH ANP theo Số điện thoại 0912 772 008 để được luật sư tư vấn quyền sử dụng đấttranh chấp đất đai nhanh chóng, chính xác nhất.

Ngoài dịch vụ tư vấn trên theo quy định của pháp luật, Luật ANP còn tư vấn các lĩnh vực khác như: Tư vấn thừa kếThủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài, tranh chấp hợp đồng lao động, Tư vấn thừa kế đất đai có tài sản gắn liền trên đất, tranh chấp va chạm giao thông, Tư vấn thủ tục lập di chúc

 

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Trần Thị Hằng nói:
    e muốn ly hôn thủ tuc thế nào ạ;
  • Nguyễn Hà nói:
    Nguoi me nhan duoc Quyet dinh của Toa an ve quyen nuoi con, nhung khong co du dieu kien nuoi con, thi co the lam bien ban thoa thuan tra lai quyen nuoi con cho nguoi cha duoc k?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Theo Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ: (1) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; (2) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đối với con từ 07 tuổi trở lên việc thay đổi này phải xem xét nguyện vọng của con. Như vậy nếu trẻ nhà bạn nhỏ hơn 7 tuổi thì bạn hai vợ chồng có thể thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cho người cha, trong trường hợp con từ đủ 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con, xem con muốn ở cùng ai. Tuy nhiên không phải con muốn ở với ai cũng được, mà đó chỉ là một căn cứ để xem xét thêm, việc thay đổi này sẽ dựa vào sự phù hợp, có lợi nhất cho con.;
  • phan văn sơn nói:
    tư vấn giúp e.bố và mẹ em đã ly hôn e có 1 e trai theo quyết định của tòa án.e ở với bố e trai e ở với mẹ.và bố em phải bồi thường cho mẹ 1 khoản tiền chênh lệch.gd e có 2 mảnh đất chia cho bố 1 mảnh đất cho mẹ 1 mảnh đất.cộng thêm bố e phải trả 1 khoản nợ mà bố với mẹ đã vay mượn.nhưng giờ bố e đã mất và chưa bồi thường cho mẹ số tiền chênh lệch ấy.cho e hoi giờ bố e đã mất vậy e có quyền được thừa hưởng và đứng tên quyền sử dụng đất của bố e không ạ. và em làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thì có liên quan đến số tiền chênh lệch mà bố phải bồi thường cho mẹ không ạ.làm ơn tư vấn giúp e vì em không có thời gian nữa ạ;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bên cạnh đó, Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Trường hợp đối với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; trừ các giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Và người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên là mẹ của bạn. Như vậy thì nếu bạn chưa đủ 18 tuổi thì các giao dịch liên quan đến bất động sản phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đồng ý (mẹ bạn), vì vậy bằng cách phải chờ đến khi đủ 18 tuổi thì bạn mới được tham gia giao dịch liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, nếu như bạn còn có ông bà nội còn sống thì ông bà bạn cũng được hưởng ngang nhau di sản thừa kế đó.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Đây là trường hợp bố bạn không để lại di chúc, thì chúng tôi sẽ giải quyết theo pháp luật như sau: Giả sử bố mẹ bạn có một mảnh đất có giá trị 2 tỷ, sau khi ly hôn mỗi người được một mảnh đất có giá trị như nhau là 1 tỷ, bố bạn nợ mẹ bạn và giá trị khoản nợ là 100 triệu. Bố bạn mất để lại tài sản là mảnh đất có giá trị 1 tỷ và một khoản nợ 100 triệu. Theo nguyên tắc thì số tài sản đó sẽ được trả cho người nợ trước, tức là sẽ trả cho mẹ bạn 100 triệu, còn lại 900 triệu. Bố bạn có hai người con ruột là bạn và em trai bạn, như vậy sau khi ông mất thì tài sản sẽ được chia cho bạn và em trai bạn với giá trị ngang nhau, mỗi người một nửa mảnh đất trị giá 450 triệu. Bạn được làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất với mảnh đất trị giá 450 triệu đó. Nếu như bạn không muốn chia mảnh đất đó và muốn được quyền sử dụng tất cả mảnh đất trị giá 1 tỷ đó thì bạn có thể trả cho mẹ bạn 100 triệu và em trai của bạn 450 triệu. Sau khi trả hết nợ hoặc thỏa thuận thành công thì bạn có thể sang tên mảnh đất.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bạn là người Việt Nam, vợ bạn là người nước ngoài thì phải dựa vào nơi cư trú của hai vợ chồng lúc làm thủ tục ly hôn. Trường hợp thứ nhất, bạn và vợ cùng cư trú tại Việt Nam thì việc ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam thì được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ chồng bạn sinh sống. Tại đây, Thủ tục thực hiện như những vụ việc ly hôn thông thường bằng cách nộp đơn ly hôn lên tòa án nhân dân cấp huyện. Trường hợp thứ hai, nếu hai vợ chồng anh chị là công dân Việt Nam nhưng không thường trú tại Việt Nam ở thời điểm ly hôn thì được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng, thì ở trường hợp này, thủ tục ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật nước ngoài. Trường hợp 3,nếu hai người không có nơi thường trú chung, bạn cư trú ở Việt Nam nhưng vợ cư trú ở nước ngoài thì có thể được giải quyết theo pháp luật Việt Nam, thì việc ly hôn có thể được thực hiện theo thủ tục ly hôn của pháp luật Việt Nam, nhưng sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh.;
  • trần hải nam nói:
    Tôi muốn hỏi thủ tục ly hôn với người nước ngoài;
  • Ngô tuấn cảnh nói:
    Luật sư cho e hỏi chút ạ e đc 8 tuổi thì mẹ e kết hôn lần 2 năm 1999 e ở với mẹ và bố dượng đến năm 2014 thì mẹ mất năm 2015 bố dượng e tự ý cắt khẩu của e mà kon thông báo cho e vậy bố e có vi phạm nhân quyền và quyền thừa kế hay kon ? Và e có được hưởng tài sản thừa kế hay kon ?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Chào anh Cảnh! Theo quy định pháp luật Cư trú thì: Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú: a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết; b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại; c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này; d) Ra nước ngoài để định cư; đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ. Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp trên thì anh chỉ bị cắt khẩu khi có sự đồng ý của anh. Để đăng ký thường trú, anh phải có chỗ ở hợp pháp, nếu chỉ có đất nông nghiệp mà không có nhà ở thì không được coi là có chỗ ở hợp pháp và không đủ điều kiện đăng ký thường trú tại đó. Như vậy, việc cắt khẩu của bố dượng anh là sai pháp luật. Còn xét về việc hưởng tài sản thừa kế, theo điều 654 BLDS, nếu con riêng và bố dượng có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con thì vẫn được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế theo thừa kế thế vị và thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi.;