Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Các quy định về cưỡng chế thu hồi đất

Cưỡng chế thu hồi đất là biện pháp cuối cùng được áp dụng để yêu cầu người dân, người bị yêu cầu thu hồi đất bởi một quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Vậy, khi nào Nhà nước có quyền thực hiện cưỡng chế thu hồi đất, trường hợp thu hồi đất nào là trái pháp luật. Cũng như trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định về việc cưỡng chế thu hồi đất như thế nào?

Điều kiện thực hiện cưỡng chế thu hồi đất

Về điều kiện để cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất bao gồm đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013 như sau:
“Điều 71. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất
Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;
b) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;
c) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;
d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.
Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.”

Chủ thể có thẩm quyền thực hiện cưỡng chế thu hồi đất

Khi có đầy đủ các điều kiện trên, để thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất đối với người sử dụng đất vi phạm thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.

Nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

Việc tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất cần đảm bảo các nguyên tắc được quy định tại khoản 1 Điều 71 dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 70  Luật Đất đai năm 2013. Cụ thể như sau:
-     Việc cưỡng chế phải tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, bảo đảm trật tự, an toàn, đúng quy định của pháp luật;
-    Thời điểm bắt đầu tiến hành cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính.

Trình tự, thủ tục thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất

Tại khoản 4 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013 quy định về trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất được tiến hành theo các bước như sau:
Bước 1: Thành lập Ban thực hiện cưỡng chế
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, trước khi tiến hành cưỡng chế ra quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế. 
Thành phần Ban thực hiện cưỡng chế thu hồi đất gồm các thành viên được quy định tại khoản 3 Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ – CP quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Đất đai. Bao gồm các thành viên sau:
-     Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là trưởng ban;
-    Các thành viên gồm đại diện các cơ quan tài chính, tài nguyên và môi trường, thanh tra, tư pháp, xây dựng cấp huyện; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã; tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất và một số thành viên khác do Chủ tịch của Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định.
Bước 2: Thực hiện vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế
Đây là hành vi thể hiện sự khoan dung của pháp luật, ưu tiên lợi ích của người dân; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày được lập văn bản.
Nếu người bị cưỡng chế kiên quyết không thực hiện quyết định thì ban thực hiện cuõng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế.
Bước 3: Tổ chức thực hiện cưỡng chế
Việc tổ chức thực hiện cưỡng chế gồm các hoạt động sau:
-    Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan ra khỏi khu đất bị cưỡng chế, chuyển tài sản ra khỏi khu đất;
-    Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản.
Trong quá trình tổ chức thực hiện cưỡng chế thu hồi đất, các tổ chức cá nhân cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 5 điều 71 Luật Đất đai năm 2013 phải có trách nhiệm phối hợp, thực hiện theo quy định. 
Tóm lại: Trong trường hợp cưỡng chế thu hồi đất vi phạm một trong các điều về điều kiện tiến hành thu hồi; nguyên tắc thu hồi; chủ thể tổ chức cưỡng chế sai thẩm quyền hoặc có sự vi phạm trong trình tự thủ tục tiến hành cưỡng chế thì việc cưỡng chế đó là trái pháp luật. 


Tại thời điểm tìm hiểu có thể văn bản áp dụng đã hết hiệu lực hoặc sửa đổi bổ sung, bạn tham khảo thêm quy định liên quan hoặc Gọi: 0912 772 008 để được luật sư tư vấn đất đai nhanh chóng, chính xác nhất.

Ngoàidịch vụ tư vấn trên theo quy định của pháp luật, Luật ANP còn tư vấn các lĩnh vực khác như: Tư vấn thừa kếThủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài, tranh chấp hợp đồng lao động, Tư vấn thừa kế đất đai có tài sản gắn liền trên đất, tranh chấp va chạm giao thông, Tư vấn thủ tục lập di chúc

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Luật sư tư vấn nói:

    Chào chị!

    Theo quy định, ly hôn đơn phương phải gửi đơn tại Toà án nơi bị đơn (nơi cư trú của chồng chị). Chị xác định người thân của chồng chị có biết được địa chỉ của chồng chị ko?

    + Nếu người thân chồng chị không biết tin tức, chị có thể làm đơn gửi tới nơi chồng chị cư trú cuối cùng để xác nhận chồng đã bỏ đi nhưng thời gian bỏ đi phải ít nhất 06 tháng. Quá thời hạn 06 tháng sau khi chồng chị bỏ đi, chị có thể xin xác nhận của xã, phường sau đó gửi đơn tới tòa án nơi cư trú trước đây của chồng mình để yêu cầu tòa án tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải được đăng trên báo hàng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp và phát sóng trên đài Phát thchị hoặc Đài truyền hình của Trung ương 03 lần trong 03 ngày liên tiếp.

    Sau khi ra thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không xác định được thông tin của chồng chị và kể từ ngày bỏ đi đã biệt tích hai năm liền trở lên thì yêu cầu tòa án tuyên bố mất tích. Sau đó gửi đơn xin ly hôn cùng các giấy tờ liên quan tới Tòa án nơi chị đang cư trú để làm thủ tục xin ly hôn như thủ tục chung theo điều 68 Bộ luật dân sự 2015.

    + Nếu chị xác định được người thân chồng chị biết nơi anh ấy đang cư trú nhưng không tiết lộ thông tin, chị có thể làm đơn yêu cầu Tòa án để gửi thông báo tới người thân của chồng chị yêu cầu cung cấp địa chỉ cư trú hiện tại của chồng mình. Sau đó chị có thể làm đơn xin ly hôn đơn phương gửi tới Tòa án nơi chị đang cư trú.

    ;
  • Trần thị hồng nói:
    Vợ chồng em ly thân được 1 năm giờ em muốn ly hôn. Chồng em sang trung quốc em gọi không liên lạc được toà an cho em ý kiến làm sao giải quyết ly hôn nhanh cho em với ạ. Giấy tờ tuỳ thân của em chồng em nó cầm hết;
  • Trần thị hồng nói:
    Vợ chồng em ly thân được 1 năm giờ em muốn ly hôn. Chồng em sang trung quốc em gọi không liên lạc được toà an cho em ý kiến làm sao giải quyết ly hôn nhanh cho em với ạ. Giấy tờ tuỳ thân của em chồng em nó cầm hết;
  • Trần thị hồng nói:
    Vợ chồng em ly thân được 1 năm giờ em muốn ly hôn. Chồng em sang trung quốc em gọi không liên lạc được toà an cho em ý kiến làm sao giải quyết ly hôn nhanh cho em với ạ. Giấy tờ tuỳ thân của em chồng em nó cầm hết;
  • Thuy nói:
    Tôi cần tue vấn thủ tục ly hôn;
  • Luật sư tư vấn nói:

    Chào bạn, để làm đơn ly hôn bạn tham khảo mẫu sau:

    Mẫu đơn xin ly hôn thuận tình viết tay

    Mẫu xin ly hôn đơn phương

    ;
  • Nguyễn Thu Hương nói:
    E muốn làm đơn li hôn thì như thế nào ạ;
  • Nguyễn Thu Hương nói:
    E muốn làm đơn li hôn thì như thế nào ạ;
  • Nguyễn Thu Hương nói:
    E muốn làm đơn li hôn thì như thế nào ạ;
  • Nguyễn Thị Ngọc nói:
    Chào luật sư, luật sư có thể cho tôi hỏi, tôi và chồng tôi lấy nhau được hơn 3 năm và có 1 con được 31 tháng và đang có ý định li hôn do hai vợ chồng thường xuyên tranh cãi, chồng không tu trí làm ăn, trong thời gian chán nản tôi có nhắn tin nói chuyện với những người bạn là nam và tin nhắn có những icon cười. không biết tại sao chồng tôi lại đăng nhập được zalo của tôi và chụp lại những tin nhắn mà tôi nhắn với những người bạn và đe dọa nếu ly hôn thì sẽ gửi những tin nhắn đó lên mạng xã hội, rồi gửi tòa, và nơi những người bạn tôi làm việc, vậy luật sư cho tôi hỏi, như vậy có phải chồng tôi xâm phạm quyền riêng tư của tôi không ạ? Và nêu li hôn Tôi có được quyền nuôi con không ạ?;