Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Điều kiện để xin được hưởng án treo theo quy định của pháp luật

Án treo là gì? Điều kiện và cách xin hưởng án treo mới nhất. Trường hợp nào không được hưởng án treo theo quy định của Bộ luật hình sự. Công ty luật ANP sẽ giải đáp thắc mắc trên như sau: 

Án treo là gì?

Theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành tại nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định về án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

Án treo là biện pháp khi mà người phạm tội có đủ điều kiện mà thấy không cần phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội thì Tòa án cho người kết án tù được hưởng án treo.

Về cơ bản: Án treo tạo điều kiện cho người phạm tội một cơ hội để nhận thức hành vi của bản thân, không cách ly họ ra khởi đời sống xã hội, họ vẫn được tiếp tục cuộc sống và công việc bình thường, giúp giảm gánh nặng cho xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì việc cho người phạm tội hưởng án treo đã và đang tạo ra sức ép cho chính quyền địa phương trong việc giám sát, đánh giá quá trình thực hiện hình phạt và thử thách đối với người phạm tội.

Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

Tại Điều 65 Bộ luật hình sự sửa đổi 2017 và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP, người bị kết án được hưởng án treo trong các trường hợp sau:

  1. Người phạm tội bị xử phạt tù không quá 3 năm

Theo quy định của pháp luật hình sự, phạt tù không quá 3 năm được áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng. Đây là loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn. Tuy nhiên trong trường hợp người phạm tội mặc dù phạm tội nghiêm trọng nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điều 51 Bộ luật hình sự, áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 54 Bộ luật thì tòa án cũng xem xét để xử cho người phạm tội không quá 3 năm tù.

  1. Căn cứ vào nhân thân của người phạm tội

Theo nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP thì người phạm tội phải có nhân thân tốt, đa phần chúng ta hay hiểu nhầm rằng nhân thân tốt có nghĩa rằng người phạm tội lần đầu nhưng như vậy là không đủ, còn một trường hợp nữa là người đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà đã quá 06 tháng kể từ ngày vi phạm.

Thêm đó, để người phạm tội có thể hưởng án treo thì họ cần có nơi cư trú cụ thể, nơi làm việc ổn định vì đây sẽ là nơi trực tiếp giám sát và quản lý người phạm tội trong thời gian thi hành án.

  1. Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ

Để được coi là có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người phạm tội cần có từ 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi 2017 và người phạm tội không có tình tiết tăng nặng tại Điều 52 của Bộ luật.

  1. Xét thấy không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù

Phạt tù là hình phạt nghiêm khắc, mang tính răn đe đối với người phạm tội. Xét thấy hành vi phạm tội của họ gây nguy hiểm cho xã hội và cần phải cách ly họ ra khỏi xã hội mộ thời gian. Tuy nhiên, đối với những người có thể hưởng án treo, xét thấy họ là người có ý thức, có khả năng tự cải tạo và hành vi của họ không nhất thiết phải cách ly họ ra khỏi xã hội.

Thứ ba, các trường hợp không được hưởng án treo

Tại Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP đã quy định những trường hợp không được hưởng án treo như sau:

  • Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
  • Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.
  • Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.
  • Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.
  • Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.
  • Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Trên đây là những điều kiện cụ thể để người phạm tội bị kết án phạt tù được hưởng án treo. Như vậy, cơ quan có thẩm quyền xem xét các điều kiện của người phạm tội để đưa ra quyết định có cho người phạm tội được hưởng án treo hay không.

Tại thời điểm tìm hiểu có thể văn bản áp dụng đã hết hiệu lực hoặc sửa đổi bổ sung, bạn tham khảo thêm quy định liên quan hoặc Gọi: 0912 772 008 để được luật sư tư vấn luật hình sự nhanh chóng, chính xác nhất.

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Phan Thị cương nói:
    Tư vấn giúp em về vấn đề ly hôn với ạ;