Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Trộm cắp tài sản và trách nhiệm pháp lý phải chịu

  1. Căn cứ pháp  lí
  1. Điều 173, Bộ Luật Hình Sự năm 2015.
  2. Khoản 1, Điều 15, Nghị định số 167/2013/NĐ- CP.
  1. Trách nhiệm hình sự
  1. Người có hành vi trộm cắp tài sản sẽ  bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu tài sản đó trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một số trường hợp như (Thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà tiếp tục tái phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội;... và các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 173, Bộ Luật Hình Sự năm 2015)
  2. Người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu hành vi đó có tổ chức; có tính chuyên nghiệp; dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát; tái phạm nguy hiểm;  giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; trộm cắp từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 173, Luật Hình Sự năm 2015.
  3. Người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu họ lợi dụng thiên tai dịch bệnh để trộm cắp  tài sản; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 triệu đồng; trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điểm a, ,b, c, d Khoản 1 Điều 173, Bộ Luật Hình Sự năm 2015.
  4. Người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm nếu họ lợi dụng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp để trộm cắp tài sản; chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d Khoản 1, Điều 173, Bộ Luật Hình Sự năm 2015.
  5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Như vậy,việc trộm cắp tài sản với giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng thuộc một trong các trường hợp tại Khoản 1, Điều 173, Bộ Luật Hình Sự năm 2015 đều sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

  1. Trách nhiệm hành chính.

Người có hành vi trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp tại Khoản 1, Điều 173, Bộ Luật Hình Sự năm 2015 thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị truy cứu chịu trách nhiệm hành chính. Chủ thể có thẩm quyền sẽ đưa  ra các biện pháp xử phạt hành chính theo quy định tại Khoản 1, Điều 15, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP về “Vi phạm quy định gây thiệt hại tài sản của người khác”.

 

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Phan Thị cương nói:
    Tư vấn giúp em về vấn đề ly hôn với ạ;