Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Vay tiền không trả có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Vay nợ, vay tiền của người khác không trả được có phải đi tù không? Nợ bao nhiêu tiền, bao lâu không trả thì phải đi tù theo quy định pháp luật?

Các quy định về hợp đồng vay tài sản

Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015) định nghĩa hợp đồng vay tài sản như sau: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận  hoặc pháp luật có quy định.

Căn cứ theo quy định tại Điều 466 BLDS năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, xác định:

- Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Đối với trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

- Đối với trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trong hạn hoặc lãi quá hạn (nếu có).

Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự thì bên vay có nghĩa vụ phải thanh toán đúng theo thời hạn hợp đồng. Tuy nhiên, đến thời hạn trả nợ mà bên vay không có khả năng thanh toán được số lượng đã vay cho bên cho vay thì hai bên có thể thỏa thuận với nhau về việc trả nợ. Nếu không thể thỏa thuận và đi đến thống nhất chung thì bên cho vay có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết yêu cầu bên vay phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự.

Trường hợp vay tiền không thanh toán bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Thực tế có rất nhiều các trường hợp bên cho vay có đầy đủ cơ sở trong việc bên vay để lừa dối mình để vay tiền nhằm chiếm đoạt số tiền đó, khi đó bên cho vay sẽ khởi kiện bên vay ra Tòa án nhân dân để xét xử về các tội danh hình sự. Cụ thể, đối với các hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản theo hình thức hợp đồng cho vay nợ thì Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 quy định như sau:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, hành vi cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

…”

Ngoài ra, tại các khoản 2, 3, 4 và khoản 5 Điều 174 quy định về mức tăng khung hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo đó đối với tội danh này tùy thuộc vào tính chất thực hiện tội phạm người phạm tội có thể bị truy cứu ở mức hình phạt cao nhất là tù chung thân. Ngoài hình phạt là tù có thời hạn, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề.

  1. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

 Căn cứ theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 có quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau: 

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

…..”


Tại thời điểm tìm hiểu có thể văn bản áp dụng đã hết hiệu lực hoặc sửa đổi bổ sung, bạn tham khảo thêm quy định liên quan hoặc Gọi: 0912 772 008 để được luật sư công ty luật ANP tư vấn nhanh chóng, chính xác nhất.

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Phan Thị cương nói:
    Tư vấn giúp em về vấn đề ly hôn với ạ;