Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Ly hôn đơn phương nhưng vợ hoặc chồng không ký đơn xử lý thế nào?

Theo Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn

Một trong những hành vi thường gặp trong các vụ việc giải quyết ly hôn đơn phương là: Bị đơn (người không đồng ý ly hôn có thể là vợ, hoặc chồng) tìm mọi cách để không ký đơn ly hôn, không đến tòa án thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật. Vậy, trường hợp này giải quyết thế nào? Bạn Quang Dũng, ứng Hòa, Hà Nội hỏi.

Trao đổi với chúng tôi, luật sư Nguyễn Trung - Đoàn Luật sư Hà Nội cho biết:

Nếu đối phương (vợ hoặc chồng) không đồng ý ký vào đơn thì bên còn lại có thể làm đơn ly hôn theo yêu cầu của một bên.

Về thủ tục đơn phương ly hôn (ly hôn theo yêu cầu của một bên) được nộp tại tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi người còn lại đang cư trú.

Hồ sơ ly hôn đơn phương, bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã về hộ khẩu và chữ ký của bạn. Trong đơn bạn cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung (nếu có): Cháu tên gi? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn bạn có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn bạn muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Bạn muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của con (nếu có con);

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của bạn và của người chồng;

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì bạn phải xin xác nhận của UBND cấp xã nơi đã đăng ký kết hôn.

5. Các giấy tờ chứng minh về tài sản: ví dụ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án

+ Trong trường hợp không biết thông tin về nơi cư trú, làm việc của vợ/chồng bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết được quy tại điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Theo đó, “nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”. Tại điểm a, khoản 1, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền xét xử về hôn nhân (không có yếu tố nước ngoài) thuộc TAND cấp huyện, nên trường hợp này nguyên đơn nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại TAND cấp huyện nơi chồng chị cư trú, làm việc cuối cùng (nếu biết).

Lưu ý rằng, theo quy định của Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:

"1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống."

+ Theo quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nguyên đơn có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó nguyên đơn cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nơi cư trú cuối cùng của vợ/chồng cho tòa án nơi chị nộp đơn.

+ Khi nhận và thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, theo quy định tại Điều 170 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tòa án có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự. Trong trường hợp này, tòa án sẽ thực hiện thủ tục niêm yết công khai để triệu tập bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, như sau:

Nếu tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà chồng hoặc vợ cố tình không có mặt thì tòa lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Nếu chồng hoặc vợ vẫn không có mặt tại phiên tòa thì tòa án sẽ xét xử vắng mặt bị đơn (theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Trần Thị Hằng nói:
    e muốn ly hôn thủ tuc thế nào ạ;
  • Nguyễn Hà nói:
    Nguoi me nhan duoc Quyet dinh của Toa an ve quyen nuoi con, nhung khong co du dieu kien nuoi con, thi co the lam bien ban thoa thuan tra lai quyen nuoi con cho nguoi cha duoc k?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Theo Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ: (1) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; (2) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đối với con từ 07 tuổi trở lên việc thay đổi này phải xem xét nguyện vọng của con. Như vậy nếu trẻ nhà bạn nhỏ hơn 7 tuổi thì bạn hai vợ chồng có thể thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cho người cha, trong trường hợp con từ đủ 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con, xem con muốn ở cùng ai. Tuy nhiên không phải con muốn ở với ai cũng được, mà đó chỉ là một căn cứ để xem xét thêm, việc thay đổi này sẽ dựa vào sự phù hợp, có lợi nhất cho con.;
  • phan văn sơn nói:
    tư vấn giúp e.bố và mẹ em đã ly hôn e có 1 e trai theo quyết định của tòa án.e ở với bố e trai e ở với mẹ.và bố em phải bồi thường cho mẹ 1 khoản tiền chênh lệch.gd e có 2 mảnh đất chia cho bố 1 mảnh đất cho mẹ 1 mảnh đất.cộng thêm bố e phải trả 1 khoản nợ mà bố với mẹ đã vay mượn.nhưng giờ bố e đã mất và chưa bồi thường cho mẹ số tiền chênh lệch ấy.cho e hoi giờ bố e đã mất vậy e có quyền được thừa hưởng và đứng tên quyền sử dụng đất của bố e không ạ. và em làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thì có liên quan đến số tiền chênh lệch mà bố phải bồi thường cho mẹ không ạ.làm ơn tư vấn giúp e vì em không có thời gian nữa ạ;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bên cạnh đó, Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Trường hợp đối với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; trừ các giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Và người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên là mẹ của bạn. Như vậy thì nếu bạn chưa đủ 18 tuổi thì các giao dịch liên quan đến bất động sản phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đồng ý (mẹ bạn), vì vậy bằng cách phải chờ đến khi đủ 18 tuổi thì bạn mới được tham gia giao dịch liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, nếu như bạn còn có ông bà nội còn sống thì ông bà bạn cũng được hưởng ngang nhau di sản thừa kế đó.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Đây là trường hợp bố bạn không để lại di chúc, thì chúng tôi sẽ giải quyết theo pháp luật như sau: Giả sử bố mẹ bạn có một mảnh đất có giá trị 2 tỷ, sau khi ly hôn mỗi người được một mảnh đất có giá trị như nhau là 1 tỷ, bố bạn nợ mẹ bạn và giá trị khoản nợ là 100 triệu. Bố bạn mất để lại tài sản là mảnh đất có giá trị 1 tỷ và một khoản nợ 100 triệu. Theo nguyên tắc thì số tài sản đó sẽ được trả cho người nợ trước, tức là sẽ trả cho mẹ bạn 100 triệu, còn lại 900 triệu. Bố bạn có hai người con ruột là bạn và em trai bạn, như vậy sau khi ông mất thì tài sản sẽ được chia cho bạn và em trai bạn với giá trị ngang nhau, mỗi người một nửa mảnh đất trị giá 450 triệu. Bạn được làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất với mảnh đất trị giá 450 triệu đó. Nếu như bạn không muốn chia mảnh đất đó và muốn được quyền sử dụng tất cả mảnh đất trị giá 1 tỷ đó thì bạn có thể trả cho mẹ bạn 100 triệu và em trai của bạn 450 triệu. Sau khi trả hết nợ hoặc thỏa thuận thành công thì bạn có thể sang tên mảnh đất.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bạn là người Việt Nam, vợ bạn là người nước ngoài thì phải dựa vào nơi cư trú của hai vợ chồng lúc làm thủ tục ly hôn. Trường hợp thứ nhất, bạn và vợ cùng cư trú tại Việt Nam thì việc ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam thì được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ chồng bạn sinh sống. Tại đây, Thủ tục thực hiện như những vụ việc ly hôn thông thường bằng cách nộp đơn ly hôn lên tòa án nhân dân cấp huyện. Trường hợp thứ hai, nếu hai vợ chồng anh chị là công dân Việt Nam nhưng không thường trú tại Việt Nam ở thời điểm ly hôn thì được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng, thì ở trường hợp này, thủ tục ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật nước ngoài. Trường hợp 3,nếu hai người không có nơi thường trú chung, bạn cư trú ở Việt Nam nhưng vợ cư trú ở nước ngoài thì có thể được giải quyết theo pháp luật Việt Nam, thì việc ly hôn có thể được thực hiện theo thủ tục ly hôn của pháp luật Việt Nam, nhưng sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh.;
  • trần hải nam nói:
    Tôi muốn hỏi thủ tục ly hôn với người nước ngoài;
  • Ngô tuấn cảnh nói:
    Luật sư cho e hỏi chút ạ e đc 8 tuổi thì mẹ e kết hôn lần 2 năm 1999 e ở với mẹ và bố dượng đến năm 2014 thì mẹ mất năm 2015 bố dượng e tự ý cắt khẩu của e mà kon thông báo cho e vậy bố e có vi phạm nhân quyền và quyền thừa kế hay kon ? Và e có được hưởng tài sản thừa kế hay kon ?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Chào anh Cảnh! Theo quy định pháp luật Cư trú thì: Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú: a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết; b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại; c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này; d) Ra nước ngoài để định cư; đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ. Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp trên thì anh chỉ bị cắt khẩu khi có sự đồng ý của anh. Để đăng ký thường trú, anh phải có chỗ ở hợp pháp, nếu chỉ có đất nông nghiệp mà không có nhà ở thì không được coi là có chỗ ở hợp pháp và không đủ điều kiện đăng ký thường trú tại đó. Như vậy, việc cắt khẩu của bố dượng anh là sai pháp luật. Còn xét về việc hưởng tài sản thừa kế, theo điều 654 BLDS, nếu con riêng và bố dượng có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con thì vẫn được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế theo thừa kế thế vị và thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi.;