Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Cha mẹ được quyền quản lý tài sản riêng của con khi nào

Con cái có quyền có tài sản riêng không và quyền đó phát sinh khi nào? Cha mẹ quản lý tài sản riêng của con như thế nào? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề cha mẹ quản lý tài sản riêng sản riêng của con?

Con cái có quyền có quyền sản sản riêng khi nào?

Hiện nay, theo quy định tại Điều 75 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ về việc con cái có quyền có tài sản riêng, cụ thể như sau:

Điều 75. Quyền có tài sản riêng của con

1. Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.

[….]”

Như vậy, hiện nay pháp luật quy định rõ con cái hoàn toàn có quyền trong việc xác lập và tạo dựng phát triển tài sản riêng. Tuy nhiên, việc quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp này được quy đinh ra sao.

Quy định về việc cha mẹ quản lý tài sản riêng của con

Tại Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc quản lý tài sản riêng của con được quy định như sau:

- Cha mẹ quản lý tài sản riêng cho con trong các trường hợp sau: Con từ đủ 15 tuổi trở lên nhờ cha mẹ quản lý; Cha mẹ quản lý tài sản cho con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự. Tài sản riêng của con do cha mẹ quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không còn nhu cầu để cha mẹ quản lý.

- Cha mẹ không được quản lý tài sản riêng của con khi: Con từ đủ 15 tuổi trở lên có mong muốn được tự quản lý tài sản; Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Các quy định về quyền định đoạt đối với tài sản riêng của con

Tại Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đối với tài sản riêng của con thì việc định đoạt tài sản được quy định như sau:

- Cha mẹ quản lý tài sản cho con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải hỏi xét nguyện vọng của con.

- Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ.

Như vậy, cha mẹ không có quyền sự định đoạt tài sản riêng của con vì mục đích phục vụ lợi ích cho cha mẹ mà không được sự đồng ý của con. Tuy nhiên, pháp luật luôn quy định rõ vai trò của cha mẹ trong việc định đoạt tài sản riêng của con là vô cùng quan trọng khi con chưa thành niên. Việc này nhằm bảo đảm quyền lợi cho các con khi các con chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Tuy nhiên, trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng cho con chưa thành niên nhưng có những hành vi phá tài sản của con, lấy tài sản của con để phục vụ lợi ích cho mình làm con bị ảnh hưởng,… thì theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền để Tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ, cụ thể: hạn chế quyền quyền quản lý tài sản riêng của con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm, Tòa án xem xét vào tình hình cụ thể có thể rút ngắn thời hạn hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.


Tại thời điểm tìm hiểu có thể văn bản áp dụng đã hết hiệu lực hoặc sửa đổi bổ sung, bạn tham khảo thêm quy định liên quan hoặc Gọi: 0912 772 008 để được luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình nhanh chóng, chính xác nhất.

Ngoài dịch vụ tư vấn trên theo quy định của pháp luật, Luật ANP còn tư vấn các lĩnh vực khác như: Thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài, tranh chấp va chạm giao thông, Tư vấn thừa kếTư vấn thủ tục lập di chúc,  tư vấn đất đai ,  tranh chấp hợp đồng lao động, Tư vấn thừa kế đất đai có tài sản gắn liền trên đất

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Trần Thị Hằng nói:
    e muốn ly hôn thủ tuc thế nào ạ;
  • Nguyễn Hà nói:
    Nguoi me nhan duoc Quyet dinh của Toa an ve quyen nuoi con, nhung khong co du dieu kien nuoi con, thi co the lam bien ban thoa thuan tra lai quyen nuoi con cho nguoi cha duoc k?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Theo Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ: (1) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; (2) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đối với con từ 07 tuổi trở lên việc thay đổi này phải xem xét nguyện vọng của con. Như vậy nếu trẻ nhà bạn nhỏ hơn 7 tuổi thì bạn hai vợ chồng có thể thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cho người cha, trong trường hợp con từ đủ 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con, xem con muốn ở cùng ai. Tuy nhiên không phải con muốn ở với ai cũng được, mà đó chỉ là một căn cứ để xem xét thêm, việc thay đổi này sẽ dựa vào sự phù hợp, có lợi nhất cho con.;
  • phan văn sơn nói:
    tư vấn giúp e.bố và mẹ em đã ly hôn e có 1 e trai theo quyết định của tòa án.e ở với bố e trai e ở với mẹ.và bố em phải bồi thường cho mẹ 1 khoản tiền chênh lệch.gd e có 2 mảnh đất chia cho bố 1 mảnh đất cho mẹ 1 mảnh đất.cộng thêm bố e phải trả 1 khoản nợ mà bố với mẹ đã vay mượn.nhưng giờ bố e đã mất và chưa bồi thường cho mẹ số tiền chênh lệch ấy.cho e hoi giờ bố e đã mất vậy e có quyền được thừa hưởng và đứng tên quyền sử dụng đất của bố e không ạ. và em làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thì có liên quan đến số tiền chênh lệch mà bố phải bồi thường cho mẹ không ạ.làm ơn tư vấn giúp e vì em không có thời gian nữa ạ;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bên cạnh đó, Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Trường hợp đối với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; trừ các giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Và người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên là mẹ của bạn. Như vậy thì nếu bạn chưa đủ 18 tuổi thì các giao dịch liên quan đến bất động sản phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đồng ý (mẹ bạn), vì vậy bằng cách phải chờ đến khi đủ 18 tuổi thì bạn mới được tham gia giao dịch liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, nếu như bạn còn có ông bà nội còn sống thì ông bà bạn cũng được hưởng ngang nhau di sản thừa kế đó.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Đây là trường hợp bố bạn không để lại di chúc, thì chúng tôi sẽ giải quyết theo pháp luật như sau: Giả sử bố mẹ bạn có một mảnh đất có giá trị 2 tỷ, sau khi ly hôn mỗi người được một mảnh đất có giá trị như nhau là 1 tỷ, bố bạn nợ mẹ bạn và giá trị khoản nợ là 100 triệu. Bố bạn mất để lại tài sản là mảnh đất có giá trị 1 tỷ và một khoản nợ 100 triệu. Theo nguyên tắc thì số tài sản đó sẽ được trả cho người nợ trước, tức là sẽ trả cho mẹ bạn 100 triệu, còn lại 900 triệu. Bố bạn có hai người con ruột là bạn và em trai bạn, như vậy sau khi ông mất thì tài sản sẽ được chia cho bạn và em trai bạn với giá trị ngang nhau, mỗi người một nửa mảnh đất trị giá 450 triệu. Bạn được làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất với mảnh đất trị giá 450 triệu đó. Nếu như bạn không muốn chia mảnh đất đó và muốn được quyền sử dụng tất cả mảnh đất trị giá 1 tỷ đó thì bạn có thể trả cho mẹ bạn 100 triệu và em trai của bạn 450 triệu. Sau khi trả hết nợ hoặc thỏa thuận thành công thì bạn có thể sang tên mảnh đất.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bạn là người Việt Nam, vợ bạn là người nước ngoài thì phải dựa vào nơi cư trú của hai vợ chồng lúc làm thủ tục ly hôn. Trường hợp thứ nhất, bạn và vợ cùng cư trú tại Việt Nam thì việc ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam thì được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ chồng bạn sinh sống. Tại đây, Thủ tục thực hiện như những vụ việc ly hôn thông thường bằng cách nộp đơn ly hôn lên tòa án nhân dân cấp huyện. Trường hợp thứ hai, nếu hai vợ chồng anh chị là công dân Việt Nam nhưng không thường trú tại Việt Nam ở thời điểm ly hôn thì được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng, thì ở trường hợp này, thủ tục ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật nước ngoài. Trường hợp 3,nếu hai người không có nơi thường trú chung, bạn cư trú ở Việt Nam nhưng vợ cư trú ở nước ngoài thì có thể được giải quyết theo pháp luật Việt Nam, thì việc ly hôn có thể được thực hiện theo thủ tục ly hôn của pháp luật Việt Nam, nhưng sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh.;
  • trần hải nam nói:
    Tôi muốn hỏi thủ tục ly hôn với người nước ngoài;
  • Ngô tuấn cảnh nói:
    Luật sư cho e hỏi chút ạ e đc 8 tuổi thì mẹ e kết hôn lần 2 năm 1999 e ở với mẹ và bố dượng đến năm 2014 thì mẹ mất năm 2015 bố dượng e tự ý cắt khẩu của e mà kon thông báo cho e vậy bố e có vi phạm nhân quyền và quyền thừa kế hay kon ? Và e có được hưởng tài sản thừa kế hay kon ?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Chào anh Cảnh! Theo quy định pháp luật Cư trú thì: Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú: a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết; b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại; c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này; d) Ra nước ngoài để định cư; đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ. Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp trên thì anh chỉ bị cắt khẩu khi có sự đồng ý của anh. Để đăng ký thường trú, anh phải có chỗ ở hợp pháp, nếu chỉ có đất nông nghiệp mà không có nhà ở thì không được coi là có chỗ ở hợp pháp và không đủ điều kiện đăng ký thường trú tại đó. Như vậy, việc cắt khẩu của bố dượng anh là sai pháp luật. Còn xét về việc hưởng tài sản thừa kế, theo điều 654 BLDS, nếu con riêng và bố dượng có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con thì vẫn được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế theo thừa kế thế vị và thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi.;