Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Tư vấn thực hiện khiếu nại trong tranh chấp đất đai

Trong các trường hợp, người sử dụng đất phát hiện Cơ quan nhà nước, các chủ thể có thẩm quyền thực hiện các hành vi hành chính có dấu hiệu trái phát luật, làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức sử dụng đất. Vậy, đối với các hành vi này, người sử sụng đất phải làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình cũng như trình tự thực hiện như thế nào?

Khiếu nại về đất đai là gì?

Tại Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011 Khiếu nại đất đai được hiểu là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo quy định của Luật khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.

Đối tượng khiếu nại đất đai

Theo quy định tại Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 quy định đối tượng của khiếu nại đất đai là quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai. Cụ thể:

  • Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
  • Quyết định bồi thường, hỗ tợ, giải phóng mặt bằng;
  • Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
  • Quyết định cưỡng chế thu hồi đất,…
  • Và một số hành vi như: Không thực hiện hoặc thực hiện không dung đối với thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người dân,…

Hình thức khiếu nại

Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại (văn bản) hoặc khiếu nại trực tiếp.

Những nội dung, yêu cầu cần có trong đơn khiếu nại được quy định cụ thể và chi tiết tại khoản 2 Điều 8 Luật khiếu nại năm 2011.

Thời hiệu khiếu nại

Thời hiệu để tiến hành khiếu nại được quy định tại Điều 9 Luật Khiếu nại năm 2011 như sau:

“Điều 9. Thời hiệu khiếu nại

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.”

Trình tự thực hiện khiếu nại

Việc thực hiện khiếu nại được tiến hành theo các bước quy định tại Luật khiếu nại năm 2011 như sau:

Bước 1: Gửi đơn và tiếp nhận đơn khiếu nại

Người khiếu nại gửi đơn và các tài liệu liên quan khác (nếu có) đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Người có thẩm quyền tiếp nhận đơn khiếu nại tổ chức thực hiện việc tiếp nhận đơn khiếu nại.

Bước 2: Thụ lý đơn

Sau khi nhận được đơn, người có thẩm quyền giải quyết xem xét trường hợp khiếu nạị. Nếu khiếu nại không thuộc một trong các trường hợp không thụ lý giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 11 Luật khiếu nại thì phải thụ lý giải quyết và thông báo về việc thụ lý giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được đơn khiếu nại.

Trường hợp không thủ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do.

Bước 3: Xác minh nội dung khiếu nại

Trong thời hạn giải quyết khiếu nại, cụ thể là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý đối với khiếu nại lần đầu và không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý đối với khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành xác minh nội dung khiếu nại.

Việc xác minh nội dung khiếu nại cần đảm bảo các yêu cầu quy định tại Điều 29 Luật khiếu nại năm 2011 đối với khiếu nại lần đầu. Và theo quy định tại Điều 38 Luật Khiếu nại năm 2011 đối với khiếu nại lần thứ hai.

Bước 4: Tổ chức đối thoại

Trong quá trình giải quyết khiếu nại, nếu yêu cầu của người khiếu lại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại khác nay thì người giải quyết khiếu nại tổ hcức đối thoại để làm rõ nội dung khiếu nại và đưa ra hướng giải quyết.

Bước 5: Ra quyết định giải quyết khiếu nại

Dựa vào kết quả đối thoại, người giải quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại. Nội dung và thời hạn gửi quyết định giải quyết khiếu nại tuân theo các quy định của pháp luật, cụ thể:

  • Đối với quyết định khiếu nại lần đầu: Điều 31, Điều 32 Luật Khiếu nại năm 2011
  • Đối với quyết định khiếu nại lần hai: quy định tại Điều 40, Điều 41 Luật Khiếu nại năm 2011.

Lưu ý: Đối với mỗi trường hợp, người khiếu nại có thể khiếu nại hai lần tùy thuộc vào ý chí của họ. Nếu hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu lại vẫn chưa được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định khiếu nại thì họ có thể khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết quy định tại Luật Tố tụng hành chính hoặc khiếu nại lần hai đối với trường hợp khiếu nại lần đầu.


Tại thời điểm tìm hiểu có thể văn bản áp dụng đã hết hiệu lực hoặc sửa đổi bổ sung, bạn tham khảo thêm quy định liên quan hoặc Gọi: 0912 772 008 để được luật sư tư vấn đất đai nhanh chóng, chính xác nhất.

Ngoàidịch vụ tư vấn trên theo quy định của pháp luật, Luật ANP còn tư vấn các lĩnh vực khác như: Tư vấn thừa kếThủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài, tranh chấp hợp đồng lao động, Tư vấn thừa kế đất đai có tài sản gắn liền trên đất, tranh chấp va chạm giao thông, Tư vấn thủ tục lập di chúc

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Trần Thị Hằng nói:
    e muốn ly hôn thủ tuc thế nào ạ;
  • Nguyễn Hà nói:
    Nguoi me nhan duoc Quyet dinh của Toa an ve quyen nuoi con, nhung khong co du dieu kien nuoi con, thi co the lam bien ban thoa thuan tra lai quyen nuoi con cho nguoi cha duoc k?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Theo Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ: (1) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; (2) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đối với con từ 07 tuổi trở lên việc thay đổi này phải xem xét nguyện vọng của con. Như vậy nếu trẻ nhà bạn nhỏ hơn 7 tuổi thì bạn hai vợ chồng có thể thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cho người cha, trong trường hợp con từ đủ 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con, xem con muốn ở cùng ai. Tuy nhiên không phải con muốn ở với ai cũng được, mà đó chỉ là một căn cứ để xem xét thêm, việc thay đổi này sẽ dựa vào sự phù hợp, có lợi nhất cho con.;
  • phan văn sơn nói:
    tư vấn giúp e.bố và mẹ em đã ly hôn e có 1 e trai theo quyết định của tòa án.e ở với bố e trai e ở với mẹ.và bố em phải bồi thường cho mẹ 1 khoản tiền chênh lệch.gd e có 2 mảnh đất chia cho bố 1 mảnh đất cho mẹ 1 mảnh đất.cộng thêm bố e phải trả 1 khoản nợ mà bố với mẹ đã vay mượn.nhưng giờ bố e đã mất và chưa bồi thường cho mẹ số tiền chênh lệch ấy.cho e hoi giờ bố e đã mất vậy e có quyền được thừa hưởng và đứng tên quyền sử dụng đất của bố e không ạ. và em làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thì có liên quan đến số tiền chênh lệch mà bố phải bồi thường cho mẹ không ạ.làm ơn tư vấn giúp e vì em không có thời gian nữa ạ;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bên cạnh đó, Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Trường hợp đối với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; trừ các giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Và người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên là mẹ của bạn. Như vậy thì nếu bạn chưa đủ 18 tuổi thì các giao dịch liên quan đến bất động sản phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đồng ý (mẹ bạn), vì vậy bằng cách phải chờ đến khi đủ 18 tuổi thì bạn mới được tham gia giao dịch liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, nếu như bạn còn có ông bà nội còn sống thì ông bà bạn cũng được hưởng ngang nhau di sản thừa kế đó.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Đây là trường hợp bố bạn không để lại di chúc, thì chúng tôi sẽ giải quyết theo pháp luật như sau: Giả sử bố mẹ bạn có một mảnh đất có giá trị 2 tỷ, sau khi ly hôn mỗi người được một mảnh đất có giá trị như nhau là 1 tỷ, bố bạn nợ mẹ bạn và giá trị khoản nợ là 100 triệu. Bố bạn mất để lại tài sản là mảnh đất có giá trị 1 tỷ và một khoản nợ 100 triệu. Theo nguyên tắc thì số tài sản đó sẽ được trả cho người nợ trước, tức là sẽ trả cho mẹ bạn 100 triệu, còn lại 900 triệu. Bố bạn có hai người con ruột là bạn và em trai bạn, như vậy sau khi ông mất thì tài sản sẽ được chia cho bạn và em trai bạn với giá trị ngang nhau, mỗi người một nửa mảnh đất trị giá 450 triệu. Bạn được làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất với mảnh đất trị giá 450 triệu đó. Nếu như bạn không muốn chia mảnh đất đó và muốn được quyền sử dụng tất cả mảnh đất trị giá 1 tỷ đó thì bạn có thể trả cho mẹ bạn 100 triệu và em trai của bạn 450 triệu. Sau khi trả hết nợ hoặc thỏa thuận thành công thì bạn có thể sang tên mảnh đất.;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Bạn là người Việt Nam, vợ bạn là người nước ngoài thì phải dựa vào nơi cư trú của hai vợ chồng lúc làm thủ tục ly hôn. Trường hợp thứ nhất, bạn và vợ cùng cư trú tại Việt Nam thì việc ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam thì được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ chồng bạn sinh sống. Tại đây, Thủ tục thực hiện như những vụ việc ly hôn thông thường bằng cách nộp đơn ly hôn lên tòa án nhân dân cấp huyện. Trường hợp thứ hai, nếu hai vợ chồng anh chị là công dân Việt Nam nhưng không thường trú tại Việt Nam ở thời điểm ly hôn thì được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng, thì ở trường hợp này, thủ tục ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật nước ngoài. Trường hợp 3,nếu hai người không có nơi thường trú chung, bạn cư trú ở Việt Nam nhưng vợ cư trú ở nước ngoài thì có thể được giải quyết theo pháp luật Việt Nam, thì việc ly hôn có thể được thực hiện theo thủ tục ly hôn của pháp luật Việt Nam, nhưng sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh.;
  • trần hải nam nói:
    Tôi muốn hỏi thủ tục ly hôn với người nước ngoài;
  • Ngô tuấn cảnh nói:
    Luật sư cho e hỏi chút ạ e đc 8 tuổi thì mẹ e kết hôn lần 2 năm 1999 e ở với mẹ và bố dượng đến năm 2014 thì mẹ mất năm 2015 bố dượng e tự ý cắt khẩu của e mà kon thông báo cho e vậy bố e có vi phạm nhân quyền và quyền thừa kế hay kon ? Và e có được hưởng tài sản thừa kế hay kon ?;
  • Luật sư tư vấn ANP nói:
    Chào anh Cảnh! Theo quy định pháp luật Cư trú thì: Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú: a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết; b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại; c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này; d) Ra nước ngoài để định cư; đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ. Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp trên thì anh chỉ bị cắt khẩu khi có sự đồng ý của anh. Để đăng ký thường trú, anh phải có chỗ ở hợp pháp, nếu chỉ có đất nông nghiệp mà không có nhà ở thì không được coi là có chỗ ở hợp pháp và không đủ điều kiện đăng ký thường trú tại đó. Như vậy, việc cắt khẩu của bố dượng anh là sai pháp luật. Còn xét về việc hưởng tài sản thừa kế, theo điều 654 BLDS, nếu con riêng và bố dượng có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con thì vẫn được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế theo thừa kế thế vị và thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi.;