Hotline: 091 277 2008 - Email: luatdansu.net@gmail.com.

Ly hôn đơn phương là gì?

Ly hôn đơn phương được coi như một giải pháp giúp cho những người có cuộc sống hôn nhân bế tắc, muốn tìm được lối thoát cho mình. Ly hôn đơn phương là gì? Điều kiện để được ly hôn đơn phương? Cùng Luật ANP tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Ly hôn đơn phương là gì?

Ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ vợ chồng dưới sự chứng nhận của pháp luật. Việc ly hôn có thể do yêu cầu của cả hai vợ chồng hoặc của một trong các bên. Ly hôn đơn phương là trường hợp mà việc ly hôn xuất phát từ yêu cầu của một bên. Trong cuộc sống hôn nhân, đôi khi việc một bên không chịu ly hôn không phải vì muốn níu kéo, làm lại từ đầu mà xuất phát từ sự ích kỷ, độc đoán.

Ly hôn đơn phương sẽ giúp cho bên thực sự muốn ly hôn được giải thoát. Việc ly hôn đơn phương phải được thực hiện trên cơ sở có những căn cứ chứng minh đối phương vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ làm vợ, làm chồng hoặc trong những trường hợp theo luật định. Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau về việc ly hôn đơn phương:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Điều kiện để tòa xử ly hôn đơn phương?

Từ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cơ thể thấy những điều kiện để tòa xử ly hôn đơn phương bao gồm:

Có căn cứ ly hôn

Căn cứ ly hôn đơn phương được Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định là việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn nếu người nộp đơn ly hôn đơn phương chứng minh được các căn cứ trên.

Trường hợp vợ, chồng mất tích

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Để có thể được Tòa án giải quyết việc ly hôn, người muốn ly hôn phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ, chồng mình mất tích. Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc tuyên bố mất tích của Tòa án như sau:

“1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”

Khi Tòa án ra tuyên bố vợ/chồng mất tích, người còn lại có thể tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương theo luật định.

Ly hôn theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích khác

Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ theo quy định tại khoản 2, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Ly hôn là điều không ai mong muốn khi bắt đầu cuộc sống hôn nhân. Tuy nhiên, nếu hôn nhân không mang lại cho bạn hạnh phúc ngược lại khiến cho sức khỏe, tinh thần của bạn bị ảnh hưởng trầm trọng, ly hôn chính là cánh cửa giải thoát cho bạn.

Ly hôn đơn phương là gì và những điều kiện để Ly hôn đơn phương là điều bạn cần phải nắm được trong trường hợp này!

Phản hồi từ khách hàng

Họ tên:
Mobile:
Email:
Nội dung:

Tin liên quan

Bài viết mới nhất

Phản hồi mới nhất

  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • Bùi thị cẩm vân nói:
    Tôi muốn ly hôn với chồng , sống chung với nhau không còn tình cảm , mỗi đứa một nơi không hạnh phúc , hiện tại chúng tôi có hai đứa con , một đứa ở với tôi, một đứa ở chung với ông bà nội , mâu thuẫn hai bên tranh cãi , và hơn nữa là sống với nhau không hợp và mâu thuẫn gia đình mấy năm nay , trước chồng tôi có chời bời , phá phách , bài bạc , lô đề , gái gú , mâu thuẫn áp lực tiền bạc đè nặng , cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc ,chúng tôi kết hôn từ năm 2016 tới nay , chưa bao giờ cùng quan điểm , vợ chồng hiểu nhau , mệt mỏi , cuộc sống khiến tôi strees , mong muốn của tôi sớm được ly hôn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • lê thị thanh hường nói:
    chỉ e quy trình ly hôn với ạ và cách thức viết đơn;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Vi hường nói:
    E muốn ly hôn ck nhưng muốn đk nuôi 2 đứa con đk k ak;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Nguyễn Gia Huy nói:
    Kính chào luật sư, Gia đình tôi hiện đang có một vấn đề về quyền sử dụng đất như sau : 1) Bà A có một thửa đất (1000m2) ở Huyện Hóc Môn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát (GCNQSDĐ) từ năm 1992. Ngày 14/03/2010, bà A bán một phần đất trong thửa đất đó cho ông B (khoảng hơn 100m2). Khi đó không biết vì lý do gì mà không thể tách thửa được nên 2 bên làm giấy tờ tay hợp đồng sang nhượng đất, với chữ ký làm chứng của hàng xóm là bà C. ông B cũng đã xin được giấy phép xây dựng và đã xây 1 căn nhà cấp 4. 2) Ngày 14/08/2017, ông B bán lại căn nhà ở miếng đất trên cho gia đình tôi, tất nhiên cũng làm giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ bằng tay (không có công chứng). Lúc này tôi có mượn GCNQSDĐ thửa đất ban đầu của bà A, cùng với các hợp đồng chuyển nhượng tay, đến ủy ban xã để xin tách thửa và cấp GCNQSDĐ cho miếng đất gia đình tôi đã mua và đang ở. Tuy nhiên lúc này mới phát hiện ra rằng bản vẽ thửa đất của bà A bị trùng 1 phần với bản vẽ thửa đất của bà C (người làm chứng ở nghiệp vụ 1) với lý do cán bộ địa chính vẽ sai bản đồ của bà C. Do đó nếu muốn tách thửa được thì phải mượn thêm GCNQSDĐ của bà C đến để cán bộ ủy ban xã xem xét xác nhận. Tuy nhiên bà C không hợp tác và không cho mượn sổ, trong khi bà A và ông B sẵn sàng hợp tác. Vấn đề đặt ra là : căn cứ theo quy định về luật đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan khác, có hướng xử lý nào để gia đình tôi có thể xin tách thửa và cấp được sổ cho mảnh đất đang ở hay không (với dữ kiện là ông B, bà A hợp tác, còn bà C thì không). Kính mong Luật sư xem qua tình huống này và liên hệ với tôi, vì gia đình tôi rất mong muốn hoàn tất các thủ tục càng sớm càng tốt tránh các tranh chấp sau này. Mong luật sư phản hồi sớm.;
  • Phan Thị cương nói:
    Tư vấn giúp em về vấn đề ly hôn với ạ;